← Tất cả bài

Cách nhớ kanji bằng âm Hán-Việt, bộ thủ và chiết tự

電話 là ĐIỆN THOẠI, 学生 là HỌC SINH: dùng âm Hán-Việt, bảng quy tắc chuyển âm và bộ thủ để nhớ kanji nhanh hơn.

Cách nhớ kanji bằng âm Hán-Việt, bộ thủ và chiết tự
  • Âm Hán-Việt là điểm tựa mạnh: 電話 là ĐIỆN THOẠI, 学生 là HỌC SINH, và khoảng một nửa từ ghép hai chữ Hán có từ Hán-Việt cùng nghĩa.
  • Âm Hán-Việt và âm On tương ứng khá đều (-c → -ku, -t → -tsu, -nh → -ei, t → s), nhưng đó là xu hướng, có ngoại lệ.
  • Cẩn thận với từ cùng chữ khác nghĩa như 勉強 hay 大丈夫; kết hợp bộ thủ, chiết tự và ôn cách quãng để nhớ cả hình chữ.

Nhớ kanji bằng âm Hán-Việt, bộ thủ và chiết tự

Người Việt có sẵn một lợi thế khi học kanji: âm Hán-Việt. Gần như mọi kanji gốc Hán đều có âm Hán-Việt, và âm này tương ứng khá đều với âm On (âm đọc gốc Hán) của tiếng Nhật: 電話 là ĐIỆN THOẠI, đọc でんわ; 学生 là HỌC SINH, đọc がくせい. Cách nhớ hiệu quả là ghép bốn việc: gắn mỗi chữ với âm Hán-Việt của nó, nắm vài quy tắc chuyển từ âm Hán-Việt sang âm On, tách chữ thành bộ thủ và thành phần để tự kể mẹo nhớ, rồi ôn cách quãng. Chỉ cần nhớ một điều: âm Hán-Việt là điểm tựa, không phải bản dịch, vì có những từ cùng chữ mà khác hẳn nghĩa.

Bài này đi qua từng bước với ví dụ thật: vì sao âm Hán-Việt giúp nhớ, bảng quy tắc tương ứng âm Hán-Việt và âm On kèm ngoại lệ, những từ dễ hiểu nhầm, và bảy chữ để thử ngay: 休, 明, 森, 校, 時, 思, 語. Cách đọc tiếng Nhật được đối chiếu với KANJIDIC2, âm Hán-Việt với từ điển Thiều Chửu trên hvdic; danh sách nguồn ở cuối bài.

Vì sao âm Hán-Việt giúp nhớ kanji

Tiếng Việt và tiếng Nhật đều vay rất nhiều từ của tiếng Hán, nên nhiều từ ghép kanji có một từ Hán-Việt dùng cùng chữ, cùng nghĩa. Gặp 電話, bạn không phải học một từ hoàn toàn mới: 電 là ĐIỆN, 話 là THOẠI, ghép lại là điện thoại, đúng nghĩa tiếng Nhật. 学生 là HỌC SINH. 図書館 là ĐỒ THƯ QUÁN, nghe lạ hơn, nhưng THƯ (sách) và QUÁN (toà nhà, như trong hội quán) đã đủ để đoán ra thư viện.

Đây không chỉ là cảm giác. Nhóm của Matsuda Makiko (2008) khảo sát khoảng 4.000 từ ghép hai chữ Hán trong danh sách từ vựng theo khung JLPT cũ và thấy khoảng một nửa có từ Hán-Việt cùng nghĩa; ở nhóm từ cấp cao, tỉ lệ này lên tới khoảng 60%. Nagano Masumi (2017, Đại học Hiroshima) cũng ghi nhận rằng với người Việt học tiếng Nhật, từ nào có âm Hán-Việt càng gần âm Nhật thì càng được nhớ lại tốt hơn trong thí nghiệm ghi nhớ.

GoMe Nihongo không liên kết với Japan Foundation hay JEES — đơn vị tổ chức kỳ thi JLPT. Các cấp và danh sách từ nhắc trong bài chỉ là mốc ước tính để tham khảo.

Tám từ đọc qua Hán-Việt là đoán được nghĩa

Từ trong bài

電話でんわ
điện thoại · HV: ĐIỆN THOẠI
学生がくせい
học sinh, sinh viên · HV: HỌC SINH
図書館としょかん
thư viện · HV: ĐỒ THƯ QUÁN
経済けいざい
kinh tế · HV: KINH TẾ
自由じゆう
tự do · HV: TỰ DO
注意ちゅうい
chú ý, cẩn thận · HV: CHÚ Ý
準備じゅんび
chuẩn bị · HV: CHUẨN BỊ
意見いけん
ý kiến · HV: Ý KIẾN

Ngay trong nhóm dễ này cũng có chỗ cần để ý: 学生 trong tiếng Nhật thường chỉ sinh viên đại học, còn học sinh phổ thông hay gọi là 生徒 (せいと). Âm Hán-Việt cho bạn nghĩa gần đúng, phần chính xác vẫn phải lấy từ cách người Nhật dùng.

Bảng quy tắc chuyển âm Hán-Việt sang âm On

Âm Hán-Việt và âm On đều bắt nguồn từ tiếng Hán trung đại, rồi mỗi bên biến đổi theo hệ âm của ngôn ngữ mình, nên giữa hai bên có những tương ứng khá đều. Biết vài tương ứng này, nhiều khi bạn đoán được âm On từ âm Hán-Việt, hoặc ngược lại. Đây là xu hướng, không phải luật: quy tắc nào cũng có ngoại lệ, và nhiều chữ có hai ba âm On từ những đợt vay mượn khác nhau (xem mục ngay sau bảng). Mỗi dòng dưới đây ghi âm Hán-Việt bằng chữ in hoa, âm On bằng katakana.

Phần vần (cuối âm tiết)

-anh, -inh → -ei (エイ): 明 MINH → メイ, 英 ANH → エイ, 生 SINH → セイ, 名 DANH → メイ.

-ang, -ương, -ông, -ung → -ō hoặc -ū (オウ, ョウ, ウウ): 方 PHƯƠNG → ホウ, 長 TRƯỜNG → チョウ, 東 ĐÔNG → トウ, 空 KHÔNG → クウ.

-n và -m → -n (ン): 新 TÂN → シン, 安 AN → アン; 心 TÂM → シン, 三 TAM → サン. Tiếng Việt còn phân biệt -n với -m, tiếng Nhật thì gộp cả hai thành ン, nên TÂN và TÂM đều đọc シン.

-c → -ku (ク), -ch → -ki (キ): 学 HỌC → ガク, 国 QUỐC → コク, 薬 DƯỢC → ヤク; 石 THẠCH → セキ, 駅 DỊCH → エキ, 歴 LỊCH → レキ.

-t → -tsu (ツ) hoặc -chi (チ): 発 PHÁT → ハツ, 出 XUẤT → シュツ, 月 NGUYỆT → ゲツ; 日 NHẬT → ニチ, 一 NHẤT → イチ, 八 BÁT → ハチ.

-p → -ō hoặc -ū, xưa là -fu: 十 THẬP → ジュウ, 入 NHẬP → ニュウ, 法 PHÁP → ホウ, 業 NGHIỆP → ギョウ. Cách viết kana cũ còn giữ dấu vết: 十 từng viết じふ, 法 từng viết はふ. Khi đứng trước k, s, t, h, âm này thường thành âm ngắt っ: 合宿 (がっしゅく, HỢP TÚC), 雑誌 (ざっし, TẠP CHÍ).

-ao, -âu, -iêu, -ưu → -ō hoặc -ū (オウ, ョウ, ュウ): 高 CAO → コウ, 口 KHẨU → コウ, 校 HIỆU → コウ, 休 HƯU → キュウ.

-ai, -ôi → -ai (アイ): 海 HẢI → カイ, 来 LAI → ライ, 内 NỘI → ナイ.

Phụ âm đầu

h, kh, c/k/qu, gi → k hoặc g (カ行, ガ行): 漢 HÁN → カン, 海 HẢI → カイ, 学 HỌC → ガク; 口 KHẨU → コウ; 国 QUỐC → コク; 間 GIAN → カン.

ng → g (ガ行): 語 NGỮ → ゴ, 五 NGŨ → ゴ, 外 NGOẠI → ガイ, 牛 NGƯU → ギュウ.

th → t (タ行), có khi s, sh hoặc j: 天 THIÊN → テン, 体 THỂ → タイ, 通 THÔNG → ツウ; 書 THƯ → ショ, 手 THỦ → シュ, 時 THỜI → ジ.

t → s hoặc z (サ行, ザ行): 三 TAM → サン, 心 TÂM → シン, 先 TIÊN → セン, 自 TỰ → ジ. Đây là cặp người Việt hay nhầm nhất: T của Hán-Việt lại ứng với S của tiếng Nhật, còn TH mới hay ứng với T. Các nhà nghiên cứu như Maspero, Nguyễn Tài Cẩn và Mineya Tōru giải thích rằng phụ âm T của Hán-Việt hình thành khi các phụ âm ts, dz, s, z của tiếng Hán trung đại nhập lại làm một.

đ, tr → t, d, ch hoặc j: 東 ĐÔNG → トウ, 電 ĐIỆN → デン, 道 ĐẠO → ドウ; 中 TRUNG → チュウ, 知 TRI → チ, 場 TRƯỜNG → ジョウ.

ph, b → h (ハ行), có khi f hoặc b: 方 PHƯƠNG → ホウ, 風 PHONG → フウ, 分 PHÂN → フン hoặc ブン; 八 BÁT → ハチ, 北 BẮC → ホク, 半 BÁN → ハン.

v, m → b hoặc m: 文 VĂN → ブン, モン; 物 VẬT → ブツ, モツ; 万 VẠN → マン, バン; 明 MINH → メイ; 木 MỘC → モク, ボク.

l → r (ラ行): 力 LỰC → リョク, 理 LÝ → リ, 流 LƯU → リュウ.

d → y hoặc nguyên âm (ヤ行, ア行): 薬 DƯỢC → ヤク, 用 DỤNG → ヨウ, 遊 DU → ユウ, 駅 DỊCH → エキ.

nh → n hoặc j (ニ, ジ): 日 NHẬT → ニチ, ジツ; 人 NHÂN → ニン, ジン; 二 NHỊ → ニ, ジ.

Ngoại lệ và chữ có nhiều âm On

Âm On không vào tiếng Nhật một lần mà theo nhiều đợt. Lớp Go-on (呉音) vào sớm hơn; lớp Kan-on (漢音) vào sau, theo cách đọc ở Trường An thời Đường; ngoài ra còn lớp Tō-on (唐音) và những âm quen dùng (慣用音). Vì thế một chữ có thể có hai ba âm On, và thường chỉ một trong số đó khớp với bảng trên.

明 MINH đọc メイ (Kan-on, đúng quy tắc -inh → -ei), nhưng trong 明日 (みょうにち, ngày mai, cách nói trang trọng) lại đọc ミョウ (Go-on). 生 SINH cũng vậy: セイ trong 学生, ショウ trong 一生 (いっしょう, cả đời). 日 NHẬT có ニチ (Go-on) và ジツ (Kan-on); 万 VẠN có マン (Go-on) và バン (Kan-on).

Có chữ lệch hẳn quy tắc. 立 LẬP theo quy tắc -p thì thành リュウ, và âm này vẫn còn, nhưng âm hay gặp nhất lại là âm quen dùng リツ, như trong 国立 (こくりつ, quốc lập). 話 THOẠI đọc ワ, không khớp quy tắc phụ âm đầu nào. 実 có hai âm Hán-Việt là THỰC và THẬT; âm On ジツ khớp với THẬT (-t → -tsu) chứ không khớp với THỰC. Còn những chữ người Nhật tự tạo (quốc tự) như 働 (はたら-く, làm việc) vốn không có âm Hán-Việt gốc; từ điển ghi ĐỘNG, theo chữ 動.

Khi âm Hán-Việt dễ gây hiểu nhầm

Cùng chữ không có nghĩa là cùng nghĩa. Có từ mà tiếng Nhật đã đổi nghĩa so với gốc, có từ tiếng Việt đổi nghĩa, và có từ mà phần Hán-Việt chỉ là cách đọc từng chữ, không phải một từ đang dùng trong tiếng Việt. Một nghiên cứu khác của Matsuda Makiko (2012) cũng cho thấy người chưa học tiếng Nhật đoán nghĩa từ Hán-Nhật qua Hán-Việt kém hơn hẳn người đã học: Hán-Việt phát huy tác dụng khi đi cùng kiến thức tiếng Nhật, chứ không thay được nó.

Tám từ cùng chữ khác nghĩa

Từ trong bài

勉強べんきょう
học, học tập · HV: MIỄN CƯỠNG, không phải "miễn cưỡng"
大丈夫だいじょうぶ
ổn, không sao · HV: ĐẠI TRƯỢNG PHU, không phải "bậc trượng phu"
手紙てがみ
lá thư · HV: THỦ CHỈ; từ đọc âm kun
人間にんげん
con người · HV: NHÂN GIAN, không phải "cõi đời"
階段かいだん
cầu thang · HV: GIAI ĐOẠN; "giai đoạn" tiếng Nhật là 段階
迷惑めいわく
phiền phức, làm phiền · HV: MÊ HOẶC, không phải "mê hoặc"
丁寧ていねい
lịch sự; cẩn thận, kỹ · HV: ĐINH NINH, không phải "đinh ninh"
結構けっこう
khá; được rồi, đủ rồi · HV: KẾT CẤU; nghĩa "cấu trúc" ít gặp

大丈夫 vẫn còn nghĩa "bậc trượng phu" trong văn cổ, và 結構 vẫn có nghĩa "cấu trúc", nhưng trong hội thoại hằng ngày bạn sẽ gần như chỉ gặp nghĩa "ổn" và "khá, được rồi". Riêng 手紙 thuộc một nhóm khác: những từ đọc theo âm kun (âm thuần Nhật) như 手紙, 明日 (あした), 今日 (きょう). Ở đây chữ Hán chỉ mang nghĩa, cách đọc không liên quan gì tới âm On, nên bảng quy tắc ở trên không áp dụng.

Mẹo kiểm tra: khi đoán nghĩa một từ qua Hán-Việt, hãy đặt nó vào một câu tiếng Nhật. Nếu câu trở nên vô lý, chẳng hạn "mỗi tối tôi miễn cưỡng ở thư viện" cho câu 毎晩図書館で勉強します, hãy tra từ điển tiếng Nhật trước khi tin vào Hán-Việt.

Bộ thủ và thành phần: nhớ hình chữ

Âm Hán-Việt giúp nhớ nghĩa và âm, còn hình chữ thì nhớ qua bộ thủ. Bộ thủ cho biết chữ thuộc nhóm nghĩa nào; hệ thống truyền thống có 214 bộ. 語 và 話 có bộ 言 (NGÔN, lời nói) nên đều liên quan đến nói năng; 校 và 森 có bộ 木 (MỘC, cây); 時 và 明 có bộ 日 (NHẬT, mặt trời).

Nhiều chữ còn có một thành phần gợi âm. 校 và 交 cùng đọc コウ, 時 và 寺 cùng đọc ジ, 語 và 吾 cùng đọc ゴ (NGỮ và NGÔ ở tiếng Việt cũng nghe gần nhau). Hãy dùng các cặp này làm mẹo nhớ cách đọc; đây là mẹo nhớ, không phải lời giải thích nguồn gốc chữ.

Thử với bảy kanji

Mỗi mục dưới đây theo thứ tự: nghĩa và âm Hán-Việt, cách tách chữ, cách đọc (kèm quy tắc chuyển âm nếu khớp), rồi từ quen thuộc.

休: HƯU, nghỉ ngơi

Bộ nhân đứng 亻 (người) cộng 木 (cây): một người tựa vào gốc cây là đang nghỉ. Âm Hán-Việt HƯU, như trong hưu trí. Âm On キュウ, khớp quy tắc h → k và -ưu → -ū; âm kun やす-む. Từ quen thuộc: 休み (やすみ, ngày nghỉ), 夏休み (なつやすみ, kỳ nghỉ hè).

明: MINH, sáng, rõ ràng

日 (mặt trời) cộng 月 (mặt trăng): mặt trời và mặt trăng cùng chiếu thì sáng. Âm Hán-Việt MINH, như trong minh bạch. Âm On メイ (khớp -inh → -ei) và ミョウ; âm kun あか-るい. Từ quen thuộc: 説明 (せつめい, giải thích; HV: THUYẾT MINH), 明日 (あした, ngày mai).

森: SÂM, rừng rậm

Ba chữ 木 xếp lại: một cây là 木, hai cây là 林 (LÂM, rừng nhỏ), ba cây là rừng rậm. Âm Hán-Việt SÂM. Âm On シン (-m → ン), âm kun もり. Từ quen thuộc: 森林 (しんりん, rừng; HV: SÂM LÂM).

校: HIỆU, trường học

木 bên trái, 交 bên phải. Âm Hán-Việt HIỆU, như trong hiệu trưởng. Âm On コウ, khớp quy tắc h → k và -iêu → -ō; 交 cũng đọc コウ nên là chỗ dựa để nhớ cách đọc. Từ quen thuộc: 学校 (がっこう, trường học; HV: HỌC HIỆU), 校長 (こうちょう, hiệu trưởng; HV: HIỆU TRƯỞNG). Để ý がく + こう thành がっこう: âm -ku đứng trước k cũng hay biến thành っ.

時: THỜI, giờ, thời gian

日 bên trái, 寺 bên phải. Âm Hán-Việt THỜI (cũng đọc THÌ), như trong thời gian. Âm On ジ, khớp quy tắc th → j; 寺 cũng đọc ジ. Âm kun とき. Từ quen thuộc: 時間 (じかん, thời gian; HV: THỜI GIAN), 時計 (とけい, đồng hồ, cách đọc đặc biệt).

思: TƯ, nghĩ

田 ở trên, 心 (TÂM, trái tim) ở dưới. Mẹo nhớ: suy nghĩ là việc của cái đầu cộng trái tim. Âm Hán-Việt TƯ, như trong tư duy. Âm On シ, khớp quy tắc t → s; âm kun おも-う. Từ quen thuộc: 思う (おもう, nghĩ), 思想 (しそう, tư tưởng; HV: TƯ TƯỞNG).

語: NGỮ, ngôn ngữ, lời nói

Bộ 言 bên trái, 吾 bên phải. Âm Hán-Việt NGỮ, như trong ngôn ngữ. Âm On ゴ, khớp quy tắc ng → g; 吾 cũng đọc ゴ. Âm kun かた-る. Từ quen thuộc: 英語 (えいご, tiếng Anh; HV: ANH NGỮ), 言語 (げんご, ngôn ngữ; HV: NGÔN NGỮ).

Bảy chữ trong một bảng

Từ trong bài

休キュウ / やす-む
nghỉ ngơi · HV: HƯU · 亻 (người) + 木 (cây)
明メイ, ミョウ / あか-るい
sáng, rõ ràng · HV: MINH · 日 (mặt trời) + 月 (mặt trăng)
森シン / もり
rừng rậm · HV: SÂM · ba chữ 木 (cây)
校コウ
trường học · HV: HIỆU · 木 (cây) + 交 (cùng âm コウ)
時ジ / とき
giờ, thời gian · HV: THỜI · 日 (mặt trời) + 寺 (cùng âm ジ)
思シ / おも-う
nghĩ · HV: TƯ · 田 + 心 (trái tim)
語ゴ / かた-る
ngôn ngữ · HV: NGỮ · 言 (lời nói) + 吾 (cùng âm ゴ)

Học trong từ và câu, rồi ôn cách quãng

Một kanji đứng riêng thường có nhiều cách đọc, còn trong một từ thì cách đọc gần như cố định. Vì vậy mỗi chữ mới nên đi kèm ít nhất hai từ và một câu ngắn. Hãy tự đọc ba câu dưới đây trước rồi mới xem nghĩa.

Ngày mai là ngày nghỉ.

Tôi học tiếng Anh ở trường.

Tôi nghĩ tiếng Nhật rất thú vị.

Trí nhớ mờ dần theo thời gian, và gặp lại đúng lúc sắp quên là cách củng cố hiệu quả nhất. Đó là nguyên lý của ôn tập cách quãng (SRS): chữ nào nhớ tốt thì ôn thưa dần, chữ nào hay sai thì gặp lại sớm hơn. Mỗi lần ôn nên kiểm cả ba mặt: nhìn chữ nhớ ra nghĩa, đọc được vài từ chứa nó, và viết lại được hình chữ; âm Hán-Việt là gợi ý tốt cho mặt thứ nhất. Học ít nhưng đều thường dễ duy trì hơn học dồn; đây là gợi ý theo kinh nghiệm, không phải con số chuẩn.

Những lỗi thường gặp

Coi mẹo nhớ là nguồn gốc chữ: câu chuyện "người tựa vào cây" giúp nhớ 休, còn các cặp cùng âm như 時 và 寺 chỉ là liên hệ để nhớ. Muốn biết nguồn gốc thật, hãy tra từ điển chữ Hán.

Tin Hán-Việt hơn tiếng Nhật: các từ như 勉強 hay 大丈夫 ở trên là lý do. Hãy coi âm Hán-Việt là điểm tựa, nghĩa cuối cùng lấy theo từ điển tiếng Nhật.

Nhầm chữ giống nhau: 土 (THỔ, đất) và 士 (SĨ, như trong 弁護士, luật sư), 未 (VỊ, chưa) và 末 (MẠT, cuối) khác nhau ở độ dài hai nét ngang. Ở 土 và 未 nét dưới dài hơn, ở 士 và 末 nét trên dài hơn. Nhớ thêm âm Hán-Việt khác nhau của từng chữ cũng giúp tách chúng ra.

Câu hỏi thường gặp

Không biết chữ Hán thì có dùng được âm Hán-Việt không?

Được. Bạn không cần biết chữ Hán trước. Mỗi lần học một kanji, hãy tra thêm âm Hán-Việt của nó rồi liên hệ với những từ tiếng Việt đã biết có chứa âm đó.

Có cần học thuộc bảng quy tắc không?

Không cần. Hãy dùng bảng để kiểm tra khi đoán, và để ý trước những cặp hay gặp nhất: -c → -ku, -t → -tsu, -nh → -ei, t → s, h → k. Các quy tắc còn lại sẽ quen dần khi bạn gặp đủ ví dụ.

Âm Hán-Việt có giúp đọc âm kun không?

Không. Âm kun là từ thuần Nhật, phải học riêng theo từng từ. Âm Hán-Việt vẫn giúp bạn nhớ nghĩa của chữ trong những từ đó.

Có cần luyện viết tay không?

Viết tay giúp nhớ hình chữ và thứ tự nét, nhất là ở giai đoạn đầu. Nếu chỉ cần đọc, bạn có thể chú trọng nhận mặt chữ hơn; nhiều người kết hợp cả hai.

Nên học bộ thủ trước hay kanji trước?

Không cần học hết bộ thủ trước. Hãy học vài bộ thông dụng như 人, 木, 日, 言, 水, rồi học thêm bộ mới mỗi khi gặp trong chữ mới. Nếu bạn biết tiếng Trung hay tiếng Hàn, cách làm cũng tương tự: âm Hán của các tiếng đó cũng tương ứng khá đều với âm On, theo kiểu riêng của từng tiếng.

Trong GoMe Nihongo, kanji đi kèm âm Hán-Việt, bộ thủ, cách tách chữ và mẹo nhớ, cùng ôn tập cách quãng để chữ cũ được nhắc lại đúng lúc.

Nguồn: Matsuda Makiko và cộng sự (2008), Từ Hán-Việt giúp người Việt học tiếng Nhật đến mức nào, 世界の日本語教育 số 18 (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Matsuda Makiko (2012), Kiểm chứng khả năng suy đoán nghĩa của từ Hán-Việt, Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài ĐHQGHN 28(4) (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Nagano Masumi (2017), Khảo sát độ tương đồng âm giữa từ kanji tiếng Nhật và âm Hán-Việt, 広島大学日本語教育研究 số 27 (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Hà Thị Tuệ Thành (2025), Tương ứng phụ âm đầu Hán Việt và tiếng Mân Nam Đài Loan, Từ điển học và Bách khoa thư số 4 (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Hồ Minh Quang (2014), Việc nghiên cứu âm Hán Việt và ngữ âm tiếng Việt ở Trung Quốc và Nhật Bản, Tạp chí Phát triển KH&CN 17(X5) (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Wikipedia tiếng Nhật - 音読み, mục phụ âm cuối của âm Hán (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Wikipedia tiếng Nhật - 呉音, so sánh Go-on và Kan-on (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Wikipedia tiếng Nhật - 慣用音, mục biến đổi của âm nhập -fu (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Từ điển Hán Nôm hvdic (Thiều Chửu) - tra âm Hán-Việt (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)

Nguồn: Jisho.org - tra nghĩa từ tiếng Nhật (JMdict) (tra cứu 06/10/2026) (6 thg 10, 2026)